Ngân hàng thương mại thực hiện những hoạt động cốt lõi nào?
- Ngân hàng thương mại là gì và bản chất hoạt động nằm ở đâu?
- Huy động vốn tạo nguồn lực cho ngân hàng vận hành như thế nào?
- Cấp tín dụng đưa nguồn vốn từ ngân hàng đến người cần vốn ra sao?
- Thanh toán biến ngân hàng thành hạ tầng lưu chuyển tiền như thế nào?
- Các dịch vụ ngân hàng khác mở rộng chức năng cốt lõi đến đâu?
- Bốn nhóm hoạt động liên kết với nhau thành mô hình kinh doanh ngân hàng ra sao?
Theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024, ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của luật nhằm mục tiêu lợi nhuận. Các hoạt động ngân hàng trọng tâm được pháp luật xác định bao gồm nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
Ngân hàng thương mại là gì và bản chất hoạt động nằm ở đâu?
Điểm phân biệt quan trọng của ngân hàng thương mại không chỉ nằm ở việc cung cấp nhiều sản phẩm tài chính mà ở khả năng thực hiện đầy đủ các hoạt động ngân hàng theo khuôn khổ pháp luật. Luật Các tổ chức tín dụng quy định ngân hàng thương mại hoạt động nhằm mục tiêu lợi nhuận, khác về mục tiêu và chức năng với ngân hàng chính sách hoặc ngân hàng hợp tác xã.
Về mặt kinh tế, có thể nhìn hoạt động của ngân hàng thương mại qua ba quan hệ chính.
Thứ nhất là quan hệ với người có tiền nhàn rỗi. Cá nhân hoặc tổ chức gửi tiền vào ngân hàng; ngân hàng có nghĩa vụ hoàn trả theo điều kiện đã thỏa thuận. Nguồn tiền này trở thành một bộ phận quan trọng trong nguồn vốn mà ngân hàng quản lý.
Thứ hai là quan hệ với người cần vốn. Ngân hàng đánh giá khách hàng, mục đích sử dụng vốn, khả năng hoàn trả và các điều kiện tín dụng trước khi cho phép khách hàng sử dụng vốn hoặc đưa ra một cam kết tài chính.
Thứ ba là quan hệ thanh toán. Ngân hàng duy trì tài khoản và hạ tầng để tiền có thể được chuyển từ chủ thể này sang chủ thể khác mà không nhất thiết phải giao nhận tiền mặt trực tiếp.
Ba quan hệ này liên kết với nhau. Tiền gửi tạo ra nguồn lực tài chính; tín dụng chuyển một phần nguồn lực đó đến nơi có nhu cầu sử dụng; thanh toán giúp tiền tiếp tục lưu chuyển. Đây cũng là lý do không nên hiểu ngân hàng thương mại như một doanh nghiệp chỉ kiếm tiền từ hoạt động cho vay.

Huy động vốn tạo nguồn lực cho ngân hàng vận hành như thế nào?
Huy động vốn là đầu vào quan trọng của hoạt động ngân hàng. Theo Điều 107 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024, ngân hàng thương mại được nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửi khác; đồng thời được phát hành chứng chỉ tiền gửi.
Tiền gửi không chỉ là tiền ngân hàng “giữ hộ”
Khi khách hàng gửi tiền, về bản chất ngân hàng phát sinh nghĩa vụ phải hoàn trả tiền cho người gửi theo điều kiện của sản phẩm tiền gửi. Với tiền gửi thanh toán, khách hàng thường cần khả năng sử dụng tiền linh hoạt. Với tiền gửi có kỳ hạn hoặc tiết kiệm, ngân hàng có thể dự kiến tương đối rõ hơn thời điểm dòng tiền phải được hoàn trả.
Sự khác biệt về kỳ hạn có ý nghĩa trực tiếp đối với cách ngân hàng quản lý nguồn vốn. Ngân hàng không thể coi toàn bộ tiền gửi là nguồn vốn có thể sử dụng tự do trong thời gian dài, bởi khách hàng có quyền rút hoặc sử dụng tiền theo thỏa thuận.
Chính vì vậy, cơ chế huy động vốn luôn đi cùng yêu cầu quản lý thanh khoản. Chẳng hạn, pháp luật yêu cầu ngân hàng thương mại mở tài khoản thanh toán tại Ngân hàng Nhà nước và duy trì dự trữ bắt buộc trên tài khoản này.
Nguồn vốn của ngân hàng rộng hơn tiền gửi khách hàng
Một cách hiểu phổ biến nhưng chưa đầy đủ là ngân hàng chỉ huy động tiền bằng sổ tiết kiệm. Ngoài tiền gửi và chứng chỉ tiền gửi, ngân hàng còn có thể tham gia các quan hệ vay, gửi tiền và giao dịch giấy tờ có giá với các tổ chức tín dụng khác; vay tái cấp vốn từ Ngân hàng Nhà nước hoặc vay nước ngoài theo quy định.
Tuy nhiên, trong mô hình hoạt động cốt lõi của ngân hàng bán lẻ và ngân hàng thương mại nói chung, tiền gửi vẫn có ý nghĩa đặc biệt vì nó gắn trực tiếp ngân hàng với dòng tiền của cá nhân và doanh nghiệp trong nền kinh tế.
Cấp tín dụng đưa nguồn vốn từ ngân hàng đến người cần vốn ra sao?
Nếu huy động vốn là phía đầu vào thì cấp tín dụng là một trong những kênh quan trọng đưa nguồn lực tài chính ra nền kinh tế. Cấp tín dụng không đồng nghĩa hoàn toàn với cho vay.
Pháp luật hiện hành xác định cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức hoặc cá nhân sử dụng một khoản tiền, hoặc được cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền, theo nguyên tắc có hoàn trả. Các hình thức có thể bao gồm cho vay, chiết khấu, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng, thư tín dụng và những nghiệp vụ tín dụng khác theo quy định.
Riêng đối với ngân hàng thương mại, Điều 107 liệt kê các hình thức như cho vay; chiết khấu, tái chiết khấu; bảo lãnh ngân hàng; phát hành thẻ tín dụng; bao thanh toán; thư tín dụng và các hình thức cấp tín dụng khác theo quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.
Cho vay chỉ là một hình thức của tín dụng
Trong khoản vay thông thường, ngân hàng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một khoảng thời gian nhất định, với nguyên tắc hoàn trả gốc và lãi theo thỏa thuận.
Nhưng với bảo lãnh ngân hàng, cơ chế lại khác. Ngân hàng đưa ra cam kết thực hiện nghĩa vụ tài chính thay khách hàng nếu điều kiện bảo lãnh phát sinh. Với thẻ tín dụng, ngân hàng cấp cho khách hàng một hạn mức để thanh toán trước và hoàn trả sau. Với bao thanh toán, hoạt động tín dụng được gắn với các khoản phải thu hoặc nghĩa vụ thanh toán phát sinh từ giao dịch hàng hóa, dịch vụ.
Như vậy, điểm chung của các nghiệp vụ này không phải lúc nào cũng là “ngân hàng chuyển tiền vay ngay cho khách hàng”, mà là ngân hàng chấp nhận một mức độ rủi ro tín dụng để khách hàng được sử dụng vốn hoặc hưởng một cam kết tài chính.
Ngân hàng không thể biến toàn bộ vốn huy động thành tín dụng
Đây là giới hạn quan trọng để hiểu đúng cơ chế ngân hàng. Người gửi tiền có quyền được thanh toán theo thỏa thuận, trong khi khoản tín dụng có thể kéo dài nhiều tháng hoặc nhiều năm. Nếu ngân hàng sử dụng quá nhiều nguồn vốn ngắn hạn cho các tài sản khó thu hồi ngay, áp lực thanh khoản có thể xuất hiện.
Vì thế, hoạt động cấp tín dụng phải đi cùng thẩm định, quản lý kỳ hạn, kiểm soát rủi ro và các giới hạn an toàn theo pháp luật. Khi khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật hoặc vi phạm thỏa thuận tín dụng, pháp luật cũng cho phép tổ chức tín dụng chấm dứt cấp tín dụng và thu hồi nợ trước hạn trong những trường hợp được quy định.
Thanh toán biến ngân hàng thành hạ tầng lưu chuyển tiền như thế nào?
Nếu chỉ có huy động và tín dụng, ngân hàng vẫn chưa thể hiện đầy đủ vai trò trong nền kinh tế hiện đại. Một chức năng cốt lõi khác là tạo điều kiện để các chủ thể chuyển tiền và thực hiện nghĩa vụ thanh toán thông qua tài khoản.
Theo Điều 107 Luật Các tổ chức tín dụng, ngân hàng thương mại được mở tài khoản thanh toán cho khách hàng, cung ứng phương tiện thanh toán và cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Các dịch vụ trong nước bao gồm những nghiệp vụ như séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, chuyển tiền, thẻ ngân hàng, thu hộ và chi hộ. Thanh toán quốc tế được thực hiện khi đáp ứng các điều kiện pháp luật tương ứng.
Cơ chế thanh toán không phải là một khoản vay
Đây là điểm thường bị nhầm lẫn khi khách hàng sử dụng nhiều dịch vụ trên cùng một ứng dụng ngân hàng.
Khi một khách hàng chuyển 20 triệu đồng từ tài khoản thanh toán của mình sang tài khoản của người bán, về cơ bản ngân hàng đang thực hiện chỉ thị thanh toán dựa trên số dư của khách hàng. Đây không phải hoạt động cấp tín dụng.
Nếu khách hàng thanh toán 20 triệu đồng bằng thẻ tín dụng trong hạn mức ngân hàng đã cấp, quan hệ kinh tế lại khác: ngân hàng đang cho khách hàng sử dụng một hạn mức tín dụng và khách hàng có nghĩa vụ hoàn trả sau đó.
Cùng là thao tác “thanh toán”, nhưng nguồn tiền phía sau quyết định bản chất nghiệp vụ.
Ngân hàng còn kết nối với hệ thống thanh toán rộng hơn
Ngân hàng thương mại không chỉ xử lý giao dịch bên trong hệ thống riêng của mình. Pháp luật cho phép ngân hàng tổ chức thanh toán nội bộ, tham gia hệ thống thanh toán liên ngân hàng quốc gia và, khi đáp ứng điều kiện, tham gia hệ thống thanh toán quốc tế.
Điều này giải thích tại sao một khoản chuyển tiền có thể đi từ khách hàng của ngân hàng A đến khách hàng của ngân hàng B: bên dưới giao diện mà người dùng nhìn thấy là quá trình trao đổi thông tin, xác định nghĩa vụ và quyết toán giữa các tổ chức tham gia hệ thống thanh toán.
Các dịch vụ ngân hàng khác mở rộng chức năng cốt lõi đến đâu?
Huy động, tín dụng và thanh toán tạo nên phần lõi, nhưng phạm vi hoạt động của ngân hàng thương mại rộng hơn ba nhóm này.
Luật Các tổ chức tín dụng cho phép ngân hàng thương mại thực hiện hoặc tham gia nhiều hoạt động khác theo những điều kiện tương ứng, như kinh doanh và cung ứng dịch vụ ngoại hối, sản phẩm phái sinh; ủy thác và nhận ủy thác; đại lý thanh toán; một số hoạt động đại lý bảo hiểm; quản lý tiền mặt; dịch vụ ngân quỹ; bảo quản tài sản; cho thuê tủ, két an toàn; chuyển tiền, thu hộ, chi hộ không qua tài khoản; môi giới tiền tệ; tư vấn về hoạt động ngân hàng và một số giao dịch đối với giấy tờ có giá.
Một số lĩnh vực không phải cứ là ngân hàng thương mại thì được thực hiện mặc nhiên. Chẳng hạn, việc cung ứng ngoại hối hoặc các sản phẩm phái sinh thuộc những trường hợp pháp luật yêu cầu phạm vi, điều kiện hoặc sự chấp thuận thích hợp của Ngân hàng Nhà nước.
Điều này tạo ra một ranh giới quan trọng: “ngân hàng thương mại có thể thực hiện tất cả hoạt động ngân hàng” không có nghĩa là mọi ngân hàng được triển khai mọi sản phẩm tài chính theo ý muốn. Phạm vi cụ thể còn phụ thuộc vào giấy phép, điều kiện chuyên ngành và quy định áp dụng đối với từng nghiệp vụ.
Bốn nhóm hoạt động liên kết với nhau thành mô hình kinh doanh ngân hàng ra sao?
Nhìn riêng từng sản phẩm dễ khiến hoạt động ngân hàng trở thành một danh sách dài. Nhìn theo dòng vận động của tiền sẽ thấy cấu trúc rõ hơn.
Huy động vốn giúp ngân hàng hình thành và duy trì nguồn lực tài chính. Người gửi tiền đổi việc tạm thời chưa sử dụng một phần nguồn tiền để nhận quyền lợi theo thỏa thuận, chẳng hạn tiền lãi hoặc khả năng sử dụng các dịch vụ thanh toán.
Cấp tín dụng đưa nguồn lực đến cá nhân và tổ chức có nhu cầu sử dụng vốn hoặc cần ngân hàng cung cấp một cam kết tài chính. Đổi lại, ngân hàng nhận lãi, phí và đồng thời phải gánh rủi ro khách hàng không hoàn thành nghĩa vụ.
Thanh toán giúp tiền di chuyển giữa các chủ thể, tạo dòng giao dịch thường xuyên đi qua hệ thống ngân hàng. Tài khoản thanh toán vì thế vừa là một dịch vụ độc lập vừa là điểm kết nối khách hàng với nhiều sản phẩm ngân hàng khác.
Các dịch vụ liên quan mở rộng giá trị mà ngân hàng có thể cung cấp trên nền tảng vốn, tài khoản, thông tin khách hàng và hạ tầng nghiệp vụ sẵn có.
Bốn nhóm không tồn tại tách biệt. Một doanh nghiệp có thể nhận doanh thu qua tài khoản thanh toán, duy trì tiền gửi, vay vốn lưu động, mua ngoại tệ để trả nhà cung cấp nước ngoài và sử dụng bảo lãnh cho một hợp đồng. Đối với doanh nghiệp đó, các sản phẩm khác nhau thực chất nằm trong cùng một quan hệ tài chính tổng thể với ngân hàng.
Cũng vì sự liên kết này, lợi nhuận của ngân hàng không chỉ đến từ chênh lệch giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay. Ngân hàng còn có thể phát sinh thu nhập từ phí thanh toán, dịch vụ, ngoại hối và các hoạt động được pháp luật cho phép. Tuy nhiên, việc sử dụng nguồn vốn và mở rộng dịch vụ luôn phải nằm trong phạm vi được cấp phép và các yêu cầu bảo đảm an toàn của hệ thống ngân hàng.
Ngân hàng thương mại có thể được hiểu ngắn gọn là một loại hình tổ chức tín dụng hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, thực hiện đầy đủ các hoạt động ngân hàng theo pháp luật. Phần lõi của mô hình này nằm ở việc huy động và quản lý nguồn vốn, cấp tín dụng, cung ứng thanh toán và triển khai các dịch vụ ngân hàng liên quan.
Điểm quan trọng nhất là các hoạt động đó tạo thành một hệ thống thống nhất: huy động tạo nguồn lực, tín dụng phân bổ nguồn lực, thanh toán làm nguồn tiền lưu chuyển, còn các dịch vụ khác mở rộng khả năng phục vụ nhu cầu tài chính của khách hàng. Hiểu mối liên hệ này sẽ chính xác hơn việc coi ngân hàng chỉ là nơi nhận tiền gửi rồi cho người khác vay.
