Ngoại tác ảnh hưởng đến hiệu quả thị trường như thế nào?
- Ngoại tác là gì?
- Ngoại tác tích cực và ngoại tác tiêu cực khác nhau như thế nào?
- Vì sao ngoại tác làm thị trường phân bổ nguồn lực không hiệu quả?
- Ngoại tác dẫn đến thất bại thị trường bằng cơ chế nào?
- Chi phí tư nhân và chi phí xã hội giúp nhận diện ngoại tác ra sao?
- Tại sao giá thị trường không tự động phản ánh ngoại tác?
- Nội hóa ngoại tác có thể cải thiện hiệu quả thị trường như thế nào?
- Có phải mọi ngoại tác đều đồng nghĩa với thất bại thị trường?
- Ý nghĩa thực tế của ngoại tác đối với việc đánh giá thị trường
Điểm cốt lõi không chỉ nằm ở việc tác động đó là tốt hay xấu. Vấn đề kinh tế xuất hiện khi người ra quyết định không phải gánh chịu đầy đủ chi phí hoặc không nhận được đầy đủ lợi ích mà quyết định của họ tạo ra cho xã hội. Khi đó, động cơ cá nhân và lợi ích xã hội không còn hoàn toàn trùng khớp, khiến mức giá và sản lượng do thị trường hình thành có thể lệch khỏi mức hiệu quả.
Ngoại tác là gì?
Ngoại tác (externality) là chi phí hoặc lợi ích mà một hoạt động kinh tế tạo ra cho bên thứ ba nhưng không được phản ánh đầy đủ trong giao dịch giữa các bên trực tiếp tham gia.
Ví dụ, một doanh nghiệp sản xuất hàng hóa và thu lợi nhuận từ việc bán sản phẩm. Nếu quá trình sản xuất gây ô nhiễm không khí ảnh hưởng đến cư dân xung quanh nhưng doanh nghiệp không phải chịu toàn bộ thiệt hại đó, một phần chi phí của hoạt động sản xuất đã được chuyển sang người khác. Đây là ngoại tác tiêu cực.
Theo chiều ngược lại, một người thực hiện hoạt động mang lại lợi ích cho những người xung quanh nhưng không được thanh toán đầy đủ cho lợi ích đó cũng tạo ra ngoại tác. Chẳng hạn, kiến thức và đổi mới có thể tạo ra lợi ích lan tỏa vượt ra ngoài tổ chức trực tiếp đầu tư vào chúng.
Vì vậy, có ba yếu tố giúp nhận diện ngoại tác:
· Có một hoạt động sản xuất, tiêu dùng hoặc giao dịch kinh tế
· Hoạt động đó ảnh hưởng đến một bên không trực tiếp tham gia giao dịch
· Chi phí hoặc lợi ích đối với bên thứ ba không được phản ánh đầy đủ vào giá và quyết định của các bên trực tiếp
Điểm thứ ba đặc biệt quan trọng. Không phải mọi tác động của một người lên người khác đều là ngoại tác theo nghĩa kinh tế. Khi tác động đã được định giá và các bên phải trả hoặc nhận khoản tương ứng thông qua giao dịch, tác động đó đã được đưa vào cơ chế thị trường thay vì nằm hoàn toàn bên ngoài nó.

Ngoại tác tích cực và ngoại tác tiêu cực khác nhau như thế nào?
Ngoại tác thường được phân thành hai nhóm dựa trên việc bên thứ ba nhận lợi ích hay phải chịu chi phí.
Ngoại tác tiêu cực
Ngoại tác tiêu cực xảy ra khi một hoạt động tạo ra chi phí cho bên thứ ba nhưng người gây ra chi phí không phải chịu đầy đủ chi phí đó.
Ô nhiễm là ví dụ điển hình. Một nhà máy có thể tính tiền nguyên liệu, lao động, điện năng và máy móc vào chi phí sản xuất. Tuy nhiên, nếu khí thải của nhà máy làm giảm chất lượng không khí mà thiệt hại này không được tính vào quyết định sản xuất, chi phí mà doanh nghiệp nhìn thấy thấp hơn tổng chi phí thực sự mà xã hội phải chịu.
Có thể diễn đạt mối quan hệ này như sau:
Chi phí xã hội = Chi phí tư nhân Chi phí ngoại tác
Khi chi phí ngoại tác lớn hơn 0, chi phí xã hội cao hơn chi phí mà người sản xuất hoặc người tiêu dùng trực tiếp phải trả.
Hệ quả là hoạt động gây ngoại tác trở nên rẻ hơn dưới góc nhìn của người ra quyết định so với chi phí thực đối với xã hội. Điều này tạo động cơ thực hiện hoạt động đó nhiều hơn mức tối ưu xã hội.
Ngoại tác tích cực
Ngoại tác tích cực xuất hiện khi một hoạt động tạo ra lợi ích cho bên thứ ba nhưng người tạo ra lợi ích không nhận được đầy đủ giá trị tương ứng.
Đổi mới và tri thức là những trường hợp dễ thấy. Một doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu có thể tạo ra kiến thức mà các doanh nghiệp khác, người lao động hoặc toàn bộ ngành sau đó hưởng lợi. Tuy nhiên, doanh nghiệp đầu tư ban đầu có thể không thu được toàn bộ giá trị xã hội do kiến thức đó tạo ra.
Mối quan hệ có thể biểu diễn:
Lợi ích xã hội = Lợi ích tư nhân Lợi ích ngoại tác
Nếu tồn tại lợi ích ngoại tác tích cực, lợi ích xã hội của hoạt động lớn hơn lợi ích mà người trực tiếp thực hiện hoạt động có thể thu về.
Do đó, cá nhân hoặc doanh nghiệp có thể đầu tư ít hơn mức mà xã hội mong muốn, dù hoạt động đó mang lại tổng lợi ích đáng kể.
Vì sao ngoại tác làm thị trường phân bổ nguồn lực không hiệu quả?
Trong một thị trường hoạt động hiệu quả, quyết định sản xuất và tiêu dùng cần phản ánh đầy đủ chi phí và lợi ích liên quan. Ngoại tác làm phá vỡ điều kiện này bằng cách tạo ra khoảng cách giữa tín hiệu mà cá nhân nhận được và hậu quả thực tế đối với toàn xã hội.
Người mua thường quyết định dựa trên lợi ích và mức giá mà họ trực tiếp đối mặt. Người bán lựa chọn sản lượng dựa trên doanh thu và chi phí mà họ phải chịu. Nếu một phần chi phí hoặc lợi ích nằm ngoài giao dịch, giá thị trường không truyền tải toàn bộ thông tin cần thiết về giá trị xã hội của hoạt động.
Đây chính là cơ chế khiến ngoại tác có thể dẫn đến thất bại thị trường.
Ngoại tác tiêu cực khiến thị trường có xu hướng sản xuất quá mức
Giả sử doanh nghiệp sản xuất thêm một đơn vị hàng hóa. Doanh nghiệp cân nhắc chi phí tư nhân cận biên của đơn vị đó, chẳng hạn nguyên liệu, nhân công và năng lượng.
Nhưng nếu quá trình sản xuất đồng thời tạo thêm ô nhiễm, xã hội còn phải chịu một chi phí ngoại tác cận biên.
Khi đó:
Chi phí xã hội cận biên = Chi phí tư nhân cận biên Chi phí ngoại tác cận biên
Nếu doanh nghiệp không phải trả cho chi phí ngoại tác, quyết định sản xuất của doanh nghiệp dựa trên chi phí thấp hơn chi phí xã hội thực tế. Một số đơn vị hàng hóa vì vậy vẫn có lợi đối với doanh nghiệp mặc dù chi phí mà chúng gây ra cho toàn xã hội đã lớn hơn lợi ích xã hội nhận được.
Kết quả thường là sản lượng thị trường cao hơn sản lượng hiệu quả xã hội.
Ngoại tác tích cực khiến thị trường có xu hướng cung cấp dưới mức xã hội mong muốn
Cơ chế của ngoại tác tích cực diễn ra theo chiều ngược lại.
Một cá nhân hoặc doanh nghiệp quyết định có thực hiện một hoạt động hay không dựa chủ yếu trên lợi ích mà chính họ nhận được. Nếu một phần lợi ích lan sang người khác mà người thực hiện không thể thu lại giá trị đó, lợi ích tư nhân sẽ thấp hơn lợi ích xã hội.
Khi đó:
Lợi ích xã hội cận biên = Lợi ích tư nhân cận biên Lợi ích ngoại tác cận biên
Một số hoạt động có thể đem lại lợi ích cho xã hội lớn hơn chi phí thực hiện nhưng vẫn không được cá nhân hoặc doanh nghiệp lựa chọn, bởi lợi ích riêng của họ chưa đủ lớn để bù đắp chi phí.
Vì vậy, ngoại tác tích cực thường gắn với tình trạng cung cấp hoặc đầu tư thấp hơn mức hiệu quả xã hội.
Ngoại tác dẫn đến thất bại thị trường bằng cơ chế nào?
Thất bại thị trường không đơn giản có nghĩa là thị trường ngừng hoạt động. Thị trường vẫn có thể tồn tại, người mua và người bán vẫn giao dịch, giá cả vẫn hình thành và doanh nghiệp vẫn có lợi nhuận.
Vấn đề là kết quả thị trường không tối đa hóa tổng thặng dư hay phúc lợi xã hội.
Chuỗi nguyên nhân có thể hiểu theo trình tự:
Ngoại tác → Chi phí hoặc lợi ích không được phản ánh đầy đủ → Chi phí/lợi ích tư nhân khác chi phí/lợi ích xã hội → Giá và động cơ kinh tế bị lệch → Sản lượng thị trường khác sản lượng hiệu quả xã hội → Phân bổ nguồn lực không hiệu quả
Với ngoại tác tiêu cực, người gây tác động không chịu đầy đủ hậu quả nên có động cơ tạo ra quá nhiều hoạt động gây ngoại tác.
Với ngoại tác tích cực, người tạo ra lợi ích không nhận được đầy đủ thành quả nên có động cơ thực hiện quá ít hoạt động tạo lợi ích.
Do đó, cùng một vấn đề nền tảng — tác động không được đưa đầy đủ vào quyết định cá nhân — có thể tạo ra hai kết quả trái chiều về sản lượng.
Chi phí tư nhân và chi phí xã hội giúp nhận diện ngoại tác ra sao?
Sự khác biệt giữa góc nhìn tư nhân và góc nhìn xã hội là công cụ quan trọng để hiểu bản chất của ngoại tác.
Chi phí tư nhân là chi phí mà cá nhân hoặc doanh nghiệp trực tiếp phải chịu khi thực hiện hoạt động. Chi phí xã hội bao gồm cả chi phí tư nhân và những chi phí mà hoạt động đó áp đặt lên các bên khác.
Tương tự, lợi ích tư nhân là lợi ích mà người trực tiếp thực hiện hoặc tham gia hoạt động nhận được, trong khi lợi ích xã hội bao gồm cả những lợi ích lan tỏa tới bên thứ ba.
Nếu:
Chi phí xã hội > Chi phí tư nhân
thì có dấu hiệu của ngoại tác tiêu cực.
Nếu:
Lợi ích xã hội > Lợi ích tư nhân
thì có dấu hiệu của ngoại tác tích cực.
Cách tiếp cận này cũng giải thích vì sao chỉ quan sát giá thị trường đôi khi chưa đủ để đánh giá một hoạt động có hiệu quả hay không. Giá có thể phản ánh rất tốt các chi phí được giao dịch trên thị trường nhưng bỏ qua những tác động chưa được định giá.
Tại sao giá thị trường không tự động phản ánh ngoại tác?
Giá thị trường hình thành từ các quyền, nghĩa vụ và giao dịch mà các bên có thể thực hiện. Một tác động nằm ngoài cơ chế này có thể không tạo ra khoản thanh toán tương ứng.
Nếu một nhà máy gây thiệt hại cho nhiều cư dân nhưng không tồn tại cơ chế buộc nhà máy phải bồi thường cho thiệt hại đó, chi phí ô nhiễm không tự động trở thành một khoản chi phí của doanh nghiệp.
Tương tự, nếu một tổ chức tạo ra tri thức có ích cho nhiều doanh nghiệp khác nhưng không thể thu phí tất cả những người hưởng lợi, giá trị xã hội của tri thức không chuyển hoàn toàn thành doanh thu của tổ chức tạo ra nó.
Vì thế, vấn đề không nằm ở việc giá thị trường “sai” theo nghĩa tính toán sai. Giá đang phản ánh những chi phí và lợi ích đã được đưa vào giao dịch. Phần còn thiếu chính là tác động nằm ngoài giao dịch.
Quyền sở hữu không rõ ràng, khó xác định người gây tác động hoặc người chịu tác động, chi phí đo lường và chi phí thương lượng cao có thể khiến việc đưa ngoại tác vào cơ chế giá trở nên khó khăn hơn.
Nội hóa ngoại tác có thể cải thiện hiệu quả thị trường như thế nào?
Nội hóa ngoại tác là quá trình làm cho người ra quyết định phải tính đến chi phí hoặc lợi ích xã hội mà hành vi của họ tạo ra.
Đối với ngoại tác tiêu cực, mục tiêu là khiến chi phí mà người gây ngoại tác đối mặt tiến gần hơn tới chi phí xã hội. Khi gây thêm tác động tiêu cực trở nên tốn kém hơn, động cơ sản xuất, tiêu dùng hoặc phát thải có thể thay đổi.
Đối với ngoại tác tích cực, mục tiêu là giúp người tạo ra lợi ích nhận được nhiều hơn giá trị từ tác động tích cực của mình, từ đó tăng động cơ thực hiện hoạt động có lợi cho xã hội.
Các cơ chế có thể bao gồm thuế đối với hoạt động tạo ngoại tác tiêu cực, trợ cấp cho hoạt động tạo ngoại tác tích cực, quy định trực tiếp, hệ thống giấy phép có thể giao dịch, xác lập quyền sở hữu hoặc các thỏa thuận giữa những bên liên quan.
Tuy nhiên, can thiệp không tự động đồng nghĩa với hiệu quả. Muốn điều chỉnh chính xác cần biết quy mô ngoại tác, xác định ai tạo ra và ai chịu tác động, đồng thời cân nhắc chi phí quản lý, giám sát và tuân thủ. Nếu mức thuế, trợ cấp hoặc quy định không tương xứng với ngoại tác, chính sách cũng có thể tạo ra sai lệch mới.
Có phải mọi ngoại tác đều đồng nghĩa với thất bại thị trường?
Không nên hiểu rằng cứ phát hiện một tác động bên ngoài là có thể kết luận ngay thị trường đã thất bại ở mức đáng kể và cần chính phủ can thiệp.
Điều cần đánh giá là liệu tác động chưa được nội hóa có làm cho quyết định tư nhân lệch khỏi kết quả tối ưu xã hội hay không, mức độ sai lệch lớn đến đâu và liệu có cơ chế khả thi để cải thiện kết quả đó.
Trong một số trường hợp, các bên có thể tự thương lượng nếu quyền sở hữu rõ ràng, số lượng bên liên quan không quá lớn và chi phí giao dịch đủ thấp. Khi số lượng người bị ảnh hưởng rất lớn, tác động khó đo lường hoặc quyền sở hữu không rõ ràng, việc thương lượng trở nên khó khăn hơn.
Vì vậy, ngoại tác là một cơ chế quan trọng có khả năng gây thất bại thị trường, nhưng việc lựa chọn giải pháp phải dựa trên điều kiện thực tế chứ không chỉ dựa vào việc gắn nhãn một tác động là “ngoại tác”.
Ý nghĩa thực tế của ngoại tác đối với việc đánh giá thị trường
Khái niệm ngoại tác thay đổi cách đánh giá hiệu quả kinh tế. Thay vì chỉ hỏi một hoạt động có mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp hoặc lợi ích cho người mua hay không, cần đặt thêm câu hỏi: hoạt động đó tạo ra chi phí hoặc lợi ích nào cho những người không tham gia giao dịch?
Nếu bỏ qua câu hỏi này, một hoạt động có lợi về mặt tư nhân vẫn có thể tạo ra tổn thất xã hội khi ngoại tác tiêu cực đủ lớn. Ngược lại, một hoạt động có vẻ không đủ hấp dẫn về mặt thương mại vẫn có thể đáng giá đối với xã hội nếu tạo ra ngoại tác tích cực đáng kể.
Do đó, hiệu quả thị trường cần được đánh giá bằng chi phí và lợi ích xã hội chứ không chỉ bằng chi phí và lợi ích của các bên trực tiếp tham gia giao dịch.
Ngoại tác cho thấy giới hạn quan trọng của cơ chế giá: khi một phần chi phí hoặc lợi ích của hoạt động kinh tế rơi vào người thứ ba mà không được phản ánh đầy đủ trong giao dịch, quyết định tư nhân có thể khác với quyết định tối ưu cho xã hội. Ngoại tác tiêu cực thường khiến thị trường tạo ra quá nhiều hoạt động gây chi phí xã hội, còn ngoại tác tích cực thường khiến thị trường cung cấp quá ít hoạt động mang lại lợi ích lan tỏa. Chính khoảng cách giữa chi phí, lợi ích tư nhân và chi phí, lợi ích xã hội là cơ chế khiến ngoại tác có thể dẫn đến phân bổ nguồn lực không hiệu quả và thất bại thị trường.
