Giải pháp nâng cao chất lượng phát triển kinh tế Việt Nam
- Chất lượng phát triển kinh tế cần được hiểu như thế nào?
- Năng suất phải trở thành động lực trung tâm của tăng trưởng
- Cải cách thể chế là điều kiện để năng suất được giải phóng
- Phát triển khu vực doanh nghiệp trong nước đủ sức tạo giá trị
- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và năng lực đổi mới
- Nâng hiệu quả đầu tư công và chất lượng hạ tầng
- Phát triển thị trường tài chính phục vụ khu vực sản xuất
- Gắn tăng trưởng với chuyển đổi xanh và khả năng chống chịu
- Xây dựng hệ thống chỉ tiêu đo chất lượng phát triển
- Thứ tự ưu tiên để cải cách tạo ra tác động thực chất
Việt Nam đã duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong nhiều thập niên, hội nhập sâu vào thương mại quốc tế và trở thành một trung tâm sản xuất quan trọng. Tuy nhiên, mô hình dựa nhiều vào đầu tư, lao động chi phí cạnh tranh, gia công xuất khẩu và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đang dần bộc lộ giới hạn. Vì vậy, nhiệm vụ cốt lõi trong giai đoạn tiếp theo là chuyển từ tăng trưởng theo chiều rộng sang tăng trưởng dựa trên năng suất, đổi mới sáng tạo và chất lượng thể chế.
Chất lượng phát triển kinh tế cần được hiểu như thế nào?
Tăng trưởng kinh tế trả lời câu hỏi quy mô sản lượng tăng nhanh đến đâu. Chất lượng phát triển trả lời một câu hỏi sâu hơn: nền kinh tế tạo ra tăng trưởng bằng cách nào và kết quả tăng trưởng được duy trì trong bao lâu.
Một nền kinh tế có thể đạt tốc độ tăng GDP cao trong ngắn hạn nhờ tăng tín dụng, mở rộng đầu tư, khai thác tài nguyên hoặc sử dụng thêm lao động. Tuy nhiên, mô hình đó không nhất thiết làm năng lực sản xuất dài hạn tăng tương ứng. Khi hiệu quả đầu tư thấp, doanh nghiệp chậm đổi mới và thể chế phân bổ nguồn lực còn bất cập, tăng trưởng có thể đi kèm nợ cao, giá tài sản tăng, ô nhiễm và sức cạnh tranh yếu.
Ngược lại, phát triển có chất lượng thường có các đặc điểm:
· Năng suất lao động và năng suất nhân tố tổng hợp tăng ổn định
· Vốn được phân bổ vào doanh nghiệp và dự án có hiệu quả cao
· Doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị
· Đổi mới công nghệ tạo ra sản phẩm có giá trị gia tăng lớn hơn
· Người lao động có kỹ năng phù hợp và được tiếp cận việc làm tốt
· Thể chế bảo đảm cạnh tranh công bằng, minh bạch và trách nhiệm giải trình
· Tăng trưởng không đánh đổi ổn định tài chính, môi trường và an sinh xã hội
Do đó, nâng cao chất lượng phát triển kinh tế Việt Nam không đồng nghĩa với giảm mục tiêu tăng trưởng. Mục tiêu là làm cho mỗi điểm phần trăm tăng trưởng tạo ra nhiều năng lực sản xuất, thu nhập, công nghệ và phúc lợi xã hội hơn.

Năng suất phải trở thành động lực trung tâm của tăng trưởng
Năng suất phản ánh lượng giá trị mà nền kinh tế tạo ra từ lao động và các nguồn lực đầu vào. Khi dân số trong độ tuổi lao động tăng chậm, tiền lương tăng và dư địa mở rộng đầu tư hữu hạn, năng suất trở thành điều kiện quyết định để Việt Nam tiếp tục nâng cao thu nhập.
Năng suất lao động của toàn nền kinh tế Việt Nam năm 2024 được ước tính đạt 221,9 triệu đồng mỗi lao động, tương đương khoảng 9.182 USD. OECD cho biết năng suất lao động của Việt Nam tăng bình quân khoảng 5,7% mỗi năm trong giai đoạn 1990–2022, cao hơn nhiều nền kinh tế cùng khu vực, nhưng mức năng suất tuyệt đối vẫn tương đối thấp.
Điều này cho thấy Việt Nam không thiếu tốc độ cải thiện, nhưng khoảng cách năng suất vẫn lớn. Một phần tăng năng suất trước đây đến từ việc lao động dịch chuyển từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, cùng với sự gia tăng vốn trên mỗi lao động. Khi dư địa dịch chuyển cơ cấu thu hẹp, Việt Nam phải tạo năng suất ngay bên trong từng doanh nghiệp và từng ngành.
Nâng năng suất ở cấp doanh nghiệp
Năng suất quốc gia cuối cùng được hình thành từ hoạt động của doanh nghiệp. Do đó, chính sách cần chuyển từ hỗ trợ dàn trải sang tạo điều kiện để doanh nghiệp:
· Đổi mới quy trình quản trị và tổ chức sản xuất
· Đầu tư máy móc, phần mềm, tự động hóa và dữ liệu
· Áp dụng tiêu chuẩn chất lượng và truy xuất nguồn gốc
· Nâng cao năng lực thiết kế, nghiên cứu và phát triển sản phẩm
· Tham gia thị trường xuất khẩu và chuỗi cung ứng có yêu cầu cao
· Tiếp cận vốn dài hạn dựa trên hiệu quả kinh doanh
Chuyển đổi số chỉ làm tăng năng suất khi đi cùng thay đổi quy trình. Việc mua phần mềm hoặc thiết bị nhưng vẫn duy trì cách quản lý cũ có thể làm tăng chi phí mà không tạo ra giá trị tương ứng. Vì vậy, chương trình hỗ trợ doanh nghiệp cần gắn công nghệ với tư vấn quản trị, đào tạo nhân lực và đo lường kết quả.
Thúc đẩy phân bổ lại nguồn lực
Năng suất chung không chỉ tăng khi từng doanh nghiệp hoạt động tốt hơn. Năng suất còn tăng khi lao động, vốn, đất đai và cơ hội thị trường được chuyển từ đơn vị kém hiệu quả sang đơn vị có khả năng sử dụng nguồn lực tốt hơn.
Nếu doanh nghiệp yếu vẫn tồn tại nhờ ưu đãi, quan hệ hoặc khả năng tiếp cận nguồn lực không bình đẳng, nền kinh tế sẽ chịu chi phí cơ hội lớn. Doanh nghiệp có năng suất cao khó mở rộng, trong khi tài sản bị giữ lại ở những hoạt động tạo ra ít giá trị.
Bởi vậy, Việt Nam cần:
· Bảo đảm quyền tiếp cận vốn, đất đai và cơ hội đầu tư theo nguyên tắc thị trường
· Cải thiện cơ chế phá sản và tái cơ cấu doanh nghiệp
· Hạn chế bảo lãnh hoặc hỗ trợ làm sai lệch cạnh tranh
· Phát triển thị trường vốn để giảm phụ thuộc quá mức vào tín dụng ngân hàng
· Nâng cao chất lượng thông tin tài chính và xếp hạng tín nhiệm
Phân bổ nguồn lực hiệu quả có thể tạo ra năng suất ngay cả khi tổng lượng vốn đầu tư không tăng mạnh.
Cải cách thể chế là điều kiện để năng suất được giải phóng
Thể chế quyết định ai được tiếp cận nguồn lực, chi phí thực hiện một giao dịch, mức độ bảo vệ quyền tài sản và động lực đổi mới của doanh nghiệp. Vì vậy, thể chế không phải yếu tố hỗ trợ bên ngoài mà là một thành phần trực tiếp của năng suất.
Một thủ tục kéo dài làm vốn bị đình trệ. Một quy định thiếu rõ ràng khiến doanh nghiệp trì hoãn đầu tư. Việc thực thi không thống nhất giữa các địa phương làm tăng chi phí tuân thủ. Cơ chế xin–cho tạo động lực tìm kiếm đặc quyền thay vì cải thiện sản phẩm. Những chi phí này có thể không xuất hiện đầy đủ trong số liệu đầu tư nhưng làm giảm hiệu quả của toàn nền kinh tế.
Nâng cao chất lượng xây dựng chính sách
Cải cách thể chế không nên được đo chủ yếu bằng số thủ tục bị cắt giảm. Một quy định tốt cần đáp ứng ít nhất bốn yêu cầu:
· Mục tiêu chính sách rõ ràng
· Quy định có thể dự đoán và thực hiện thống nhất
· Chi phí tuân thủ tương xứng với lợi ích xã hội
· Có cơ chế đánh giá tác động và sửa đổi khi kết quả không đạt yêu cầu
Việt Nam cần tăng cường tham vấn thực chất với doanh nghiệp, chuyên gia và nhóm chịu tác động trước khi ban hành chính sách. Đánh giá tác động phải dựa trên dữ liệu, xem xét cả chi phí trực tiếp, thời gian thực hiện, rủi ro phát sinh và ảnh hưởng tới cạnh tranh.
Bên cạnh đó, chính sách cần có tính ổn định tương đối. Doanh nghiệp có thể thích nghi với quy định nghiêm ngặt nhưng rõ ràng; điều khó thích nghi hơn là quy định thay đổi nhanh hoặc được giải thích khác nhau.
Chuyển từ quản lý đầu vào sang quản lý rủi ro
Trong nhiều lĩnh vực, cơ quan quản lý vẫn tập trung vào phê duyệt trước, kiểm tra hồ sơ và kiểm soát chi tiết đầu vào. Cách tiếp cận này làm tăng gánh nặng hành chính nhưng không chắc cải thiện kết quả.
Quản lý theo rủi ro tập trung nguồn lực kiểm tra vào đối tượng, sản phẩm hoặc giao dịch có khả năng gây thiệt hại lớn. Doanh nghiệp tuân thủ tốt được giảm tần suất kiểm tra, trong khi hành vi có nguy cơ cao bị giám sát chặt hơn. Cách làm này vừa giảm chi phí cho khu vực sản xuất, vừa tăng hiệu quả quản lý nhà nước.
Để thực hiện, các cơ quan cần liên thông dữ liệu, thống nhất tiêu chí rủi ro và công khai nguyên tắc kiểm tra. Số hóa thủ tục chỉ có ý nghĩa khi loại bỏ yêu cầu trùng lặp, không phải chuyển nguyên vẹn quy trình giấy lên môi trường điện tử.
Bảo đảm cạnh tranh bình đẳng
Cạnh tranh tạo áp lực để doanh nghiệp đổi mới, giảm chi phí và nâng cao chất lượng. Nếu một số chủ thể được hưởng lợi thế không dựa trên năng lực, doanh nghiệp khác sẽ giảm động lực đầu tư dài hạn.
Cải thiện cạnh tranh đòi hỏi:
· Tách chức năng quản lý nhà nước khỏi chức năng đại diện chủ sở hữu
· Công khai các hỗ trợ, ưu đãi và nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp
· Kiểm soát độc quyền và hành vi hạn chế cạnh tranh
· Bảo đảm doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tuân thủ nguyên tắc thị trường tương đương
· Mở rộng đấu thầu cạnh tranh và công khai dữ liệu mua sắm công
Cải cách doanh nghiệp nhà nước không chỉ là cổ phần hóa. Trọng tâm phải là quản trị, minh bạch, trách nhiệm giải trình và kỷ luật tài chính.
Phát triển khu vực doanh nghiệp trong nước đủ sức tạo giá trị
Việt Nam đã thu hút hiệu quả dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, qua đó mở rộng xuất khẩu, sản xuất và việc làm. Tuy nhiên, giá trị của FDI đối với chất lượng tăng trưởng phụ thuộc vào mức độ công nghệ, kỹ năng và đơn hàng được truyền sang doanh nghiệp trong nước.
Ngân hàng Thế giới nhận định FDI đem lại lợi ích lớn về tăng trưởng, xuất khẩu và việc làm, nhưng kết quả xây dựng liên kết với khu vực kinh tế trong nước còn hạn chế. Các liên kết yếu giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa làm giảm tác động lan tỏa về công nghệ và năng suất.
Chuyển từ thu hút vốn sang thu hút năng lực
Chất lượng FDI cần được đánh giá bằng các tiêu chí rộng hơn tổng vốn đăng ký, bao gồm:
· Hàm lượng công nghệ và hoạt động nghiên cứu
· Chất lượng việc làm và đào tạo nhân lực
· Tỷ lệ mua hàng từ nhà cung cấp trong nước
· Khả năng tạo liên kết với trường đại học và viện nghiên cứu
· Mức độ tiết kiệm năng lượng và tuân thủ môi trường
· Giá trị gia tăng được giữ lại trong nền kinh tế
Ưu đãi nên gắn với kết quả có thể kiểm chứng thay vì chỉ dựa vào quy mô dự án. Tuy nhiên, không nên áp đặt tỷ lệ nội địa hóa một cách cơ học nếu doanh nghiệp trong nước chưa đáp ứng tiêu chuẩn. Chính sách hiệu quả hơn là giúp nhà cung cấp nội địa nâng năng lực để tham gia chuỗi cung ứng bằng quan hệ thương mại thực chất.
Xây dựng chương trình phát triển nhà cung cấp
Các chương trình kết nối cung–cầu chỉ tạo hiệu quả khi giải quyết được khoảng cách về chất lượng, chi phí, thời gian giao hàng và năng lực quản trị. Việt Nam cần hình thành cơ chế phối hợp giữa doanh nghiệp đầu chuỗi, nhà cung cấp nội địa, tổ chức tài chính và cơ sở đào tạo.
Hỗ trợ nên tập trung vào:
· Đánh giá khoảng cách năng lực của từng doanh nghiệp
· Tư vấn cải tiến sản xuất và quản trị chất lượng
· Hỗ trợ đạt chứng nhận quốc tế
· Tài trợ đầu tư máy móc gắn với hợp đồng đầu ra
· Đào tạo kỹ sư và quản lý chuỗi cung ứng
· Cung cấp thông tin minh bạch về nhu cầu mua hàng
Mục tiêu cuối cùng không phải tăng số cuộc kết nối mà là tăng số doanh nghiệp ký được hợp đồng, duy trì đơn hàng và từng bước đảm nhận công đoạn có giá trị cao hơn.
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và năng lực đổi mới
Khi nền kinh tế chuyển sang công nghệ cao, lợi thế lao động dồi dào không còn đủ. Việt Nam cần lao động có khả năng vận hành công nghệ, phân tích dữ liệu, giải quyết vấn đề, cải tiến quy trình và tạo ra tri thức mới.
Ngân hàng Thế giới cho rằng để đạt mục tiêu thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam cần tăng nhanh năng suất, mở rộng khả năng tiếp cận tài chính và công nghệ của doanh nghiệp nhỏ và vừa, đồng thời đầu tư chiến lược vào vốn nhân lực.
Đào tạo theo năng lực thực tế
Khoảng cách giữa bằng cấp và kỹ năng làm giảm hiệu quả của cả giáo dục lẫn doanh nghiệp. Cải cách đào tạo cần bắt đầu từ nhu cầu công việc, thay vì chỉ điều chỉnh nội dung chương trình theo chu kỳ hành chính.
Các cơ sở đào tạo cần:
· Xây dựng chuẩn đầu ra theo năng lực nghề nghiệp
· Tăng thời lượng thực hành và học tập tại doanh nghiệp
· Cập nhật chương trình cùng hiệp hội ngành nghề
· Đánh giá khả năng giải quyết vấn đề thay vì chỉ kiểm tra kiến thức
· Phát triển đào tạo lại và học tập suốt đời
· Công khai dữ liệu về việc làm, thu nhập và mức độ phù hợp của sinh viên sau tốt nghiệp
Doanh nghiệp cũng phải chia sẻ trách nhiệm. Nếu chỉ chờ hệ thống giáo dục cung cấp nhân lực hoàn chỉnh, kỹ năng sẽ luôn chậm hơn công nghệ. Cơ chế đồng tài trợ đào tạo và khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho người lao động có thể giảm khoảng cách này.
Tạo hệ sinh thái đổi mới gắn với doanh nghiệp
Chi tiêu cho nghiên cứu chưa tự động tạo ra năng suất. Nghiên cứu chỉ tạo giá trị kinh tế khi kết quả được chuyển thành quy trình, sản phẩm, bằng sáng chế, doanh nghiệp mới hoặc giải pháp được áp dụng rộng rãi.
Chính sách đổi mới cần tập trung vào:
· Hợp tác nghiên cứu giữa doanh nghiệp, trường đại học và viện nghiên cứu
· Quỹ tài trợ cạnh tranh dựa trên chất lượng và khả năng ứng dụng
· Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đi cùng cơ chế thương mại hóa
· Hỗ trợ doanh nghiệp thử nghiệm công nghệ trong môi trường có kiểm soát
· Phát triển hạ tầng dùng chung như phòng thí nghiệm và trung tâm dữ liệu
· Thu hút và giữ chân chuyên gia kỹ thuật trình độ cao
Nhà nước nên ưu tiên xử lý thất bại thị trường như chi phí nghiên cứu lớn, rủi ro cao và khó tiếp cận hạ tầng, thay vì lựa chọn doanh nghiệp chiến thắng thay cho thị trường.
Nâng hiệu quả đầu tư công và chất lượng hạ tầng
Đầu tư công có thể tạo nền tảng cho tăng trưởng dài hạn, nhưng chỉ khi dự án được lựa chọn, chuẩn bị và vận hành hiệu quả. Giải ngân nhanh không đồng nghĩa với đầu tư có chất lượng nếu dự án thiếu kết nối, đội vốn hoặc không tạo đủ lợi ích kinh tế.
Lựa chọn dự án theo hiệu quả tổng thể
Các dự án cần được đánh giá dựa trên:
· Mức độ giảm chi phí logistics và thời gian di chuyển
· Khả năng kết nối vùng sản xuất với thị trường
· Tác động tới năng suất của doanh nghiệp
· Nhu cầu sử dụng thực tế
· Chi phí vận hành và bảo trì trong toàn bộ vòng đời
· Rủi ro môi trường, khí hậu và phát sinh vốn
Cần ưu tiên các mạng lưới có tính kết nối, thay vì đầu tư nhiều công trình riêng lẻ. Một tuyến đường, cảng hoặc trung tâm logistics chỉ tạo hiệu quả cao khi kết nối được với các mắt xích còn lại.
Quản lý đầu tư theo vòng đời
Áp lực hoàn thành kế hoạch hằng năm có thể khiến cơ quan thực hiện chú trọng giải ngân hơn hiệu quả cuối cùng. Việt Nam cần chuyển sang quản lý theo vòng đời, từ chuẩn bị dự án, lựa chọn nhà thầu, thi công, nghiệm thu đến bảo trì và đánh giá sau đầu tư.
Thông tin về tiến độ, điều chỉnh vốn, nhà thầu và kết quả vận hành cần được công khai ở định dạng có thể khai thác. Minh bạch dữ liệu giúp cơ quan quản lý phát hiện sớm dự án chậm, đồng thời tạo điều kiện cho giám sát xã hội.
Phát triển thị trường tài chính phục vụ khu vực sản xuất
Doanh nghiệp muốn đổi mới công nghệ cần nguồn vốn có thời hạn phù hợp. Tuy nhiên, các dự án nghiên cứu, chuyển đổi số hoặc phát triển sản phẩm thường khó sử dụng tài sản hữu hình để thế chấp.
Khi nền kinh tế phụ thuộc quá nhiều vào tín dụng ngân hàng, rủi ro có thể tích tụ ở bất động sản và các lĩnh vực sử dụng đòn bẩy cao, trong khi doanh nghiệp đổi mới thiếu vốn dài hạn. Vì vậy, Việt Nam cần phát triển cân bằng hơn thị trường cổ phiếu, trái phiếu, quỹ đầu tư và các hình thức tài trợ dựa trên dòng tiền.
Điều kiện tiên quyết gồm:
· Chuẩn hóa công bố thông tin và kế toán
· Nâng cao chất lượng kiểm toán và xếp hạng tín nhiệm
· Bảo vệ nhà đầu tư thiểu số
· Tăng trách nhiệm của tổ chức trung gian
· Xử lý nghiêm gian lận và xung đột lợi ích
· Hoàn thiện cơ chế xử lý nợ xấu và tài sản bảo đảm
Mở rộng thị trường vốn mà không nâng chuẩn minh bạch có thể làm tăng rủi ro. Vì vậy, tốc độ phát triển phải đi cùng năng lực giám sát.
Gắn tăng trưởng với chuyển đổi xanh và khả năng chống chịu
Chất lượng phát triển suy giảm nếu tăng trưởng hiện tại tạo ra chi phí môi trường và tài chính lớn cho tương lai. Ô nhiễm, suy giảm tài nguyên, thiên tai và biến đổi khí hậu có thể phá hủy cơ sở hạ tầng, giảm năng suất lao động và làm gián đoạn chuỗi cung ứng.
Ngân hàng Thế giới ước tính nếu không có biện pháp thích ứng, tác động khí hậu có thể làm Việt Nam mất trung bình khoảng 0,33 điểm phần trăm tăng trưởng GDP thực mỗi năm trong giai đoạn 2025–2050; quy mô sản lượng có thể thấp hơn đường cơ sở 9,1% vào năm 2030 và 12,5% vào năm 2050.
Do đó, chuyển đổi xanh phải được xem là chính sách năng suất và quản trị rủi ro, không chỉ là chính sách môi trường.
Các ưu tiên gồm:
· Áp dụng giá năng lượng phản ánh dần chi phí kinh tế và môi trường
· Khuyến khích đầu tư tiết kiệm năng lượng và công nghệ sạch
· Phát triển lưới điện, lưu trữ và cơ chế mua bán điện phù hợp
· Tích hợp rủi ro khí hậu vào quy hoạch và đầu tư công
· Xây dựng tiêu chuẩn đo lường, báo cáo và xác minh phát thải
· Hỗ trợ người lao động và địa phương chịu tác động của quá trình chuyển đổi
Một giới hạn cần lưu ý là tiêu chuẩn xanh có thể làm tăng chi phí ngắn hạn, nhất là với doanh nghiệp nhỏ. Chính sách cần có lộ trình dự đoán được, hỗ trợ kỹ thuật và cơ chế tài chính phù hợp, nhưng không nên kéo dài bảo hộ cho công nghệ kém hiệu quả.
Xây dựng hệ thống chỉ tiêu đo chất lượng phát triển
Việc chỉ tập trung vào tốc độ tăng GDP có thể tạo động lực ưu tiên dự án quy mô lớn nhưng hiệu quả thấp. Việt Nam cần sử dụng một bảng chỉ tiêu cân bằng để đánh giá kết quả phát triển.
Bên cạnh GDP, cần theo dõi thường xuyên:
· Tốc độ tăng năng suất lao động và năng suất nhân tố tổng hợp
· Hiệu quả sử dụng vốn
· Tỷ lệ doanh nghiệp đổi mới công nghệ
· Tỷ lệ doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng
· Giá trị gia tăng trong nước của hàng xuất khẩu
· Chất lượng việc làm và thu nhập thực tế
· Chi phí tuân thủ và thời gian thực hiện thủ tục
· Mức độ cạnh tranh và khả năng gia nhập thị trường
· Cường độ năng lượng và phát thải trên một đơn vị GDP
· Chất lượng không khí, nước và khả năng chống chịu khí hậu
Chỉ tiêu phải được gắn với trách nhiệm thực thi. Nếu cơ quan quản lý chỉ chịu áp lực về tăng trưởng hoặc giải ngân, các mục tiêu năng suất, môi trường và chất lượng dịch vụ công dễ bị xem nhẹ.
Thứ tự ưu tiên để cải cách tạo ra tác động thực chất
Các giải pháp nâng cao chất lượng phát triển có quan hệ phụ thuộc lẫn nhau. Đào tạo kỹ năng sẽ khó tạo kết quả nếu doanh nghiệp không đầu tư công nghệ. Doanh nghiệp khó đầu tư nếu chính sách thiếu ổn định. FDI khó lan tỏa nếu nhà cung cấp trong nước yếu. Đầu tư công khó nâng năng suất nếu dự án không kết nối.
Vì vậy, cải cách cần được tổ chức theo ba tầng.
Tầng một: Khơi thông phân bổ nguồn lực
Ưu tiên cải thiện môi trường cạnh tranh, quyền tiếp cận vốn và đất đai, thủ tục đầu tư, cơ chế phá sản, minh bạch dữ liệu và hiệu lực thực thi. Đây là điều kiện để nguồn lực dịch chuyển đến nơi có hiệu quả cao.
Tầng hai: Nâng năng lực của doanh nghiệp và người lao động
Tập trung vào quản trị doanh nghiệp, công nghệ, tiêu chuẩn, tài chính dài hạn, kỹ năng nghề nghiệp, nghiên cứu ứng dụng và phát triển nhà cung cấp trong nước.
Tầng ba: Bảo đảm tính bền vững dài hạn
Tích hợp rủi ro tài chính, biến đổi khí hậu, già hóa dân số, an sinh xã hội và nhu cầu chuyển đổi nghề nghiệp vào chính sách phát triển.
Thứ tự này không có nghĩa phải hoàn thành tầng trước rồi mới bắt đầu tầng sau. Các nhóm chính sách cần được triển khai đồng thời, nhưng thể chế phân bổ nguồn lực phải giữ vai trò nền tảng.
Việt Nam đã chứng minh khả năng tăng trưởng nhanh và hội nhập thành công. Thách thức tiếp theo không đơn thuần là tạo thêm vốn đầu tư hay mở rộng năng lực sản xuất, mà là làm cho mỗi đơn vị nguồn lực tạo ra nhiều giá trị hơn.
Con đường nâng cao chất lượng phát triển kinh tế Việt Nam phải đặt năng suất và thể chế ở vị trí trung tâm. Thể chế minh bạch giúp nguồn lực đến đúng nơi; cạnh tranh tạo áp lực đổi mới; nhân lực có kỹ năng giúp doanh nghiệp hấp thụ công nghệ; liên kết giữa doanh nghiệp trong nước và khu vực FDI giữ lại nhiều giá trị hơn; còn chuyển đổi xanh bảo vệ thành quả tăng trưởng trước những rủi ro dài hạn.
Tăng trưởng cao vẫn cần thiết, nhưng chỉ bền vững khi được tạo ra từ năng lực sản xuất thực, doanh nghiệp có sức cạnh tranh và một hệ thống thể chế khuyến khích đổi mới. Đây là nền tảng để Việt Nam không chỉ mở rộng quy mô nền kinh tế mà còn tiến lên những nấc thang giá trị và thu nhập cao hơn.
Hỏi đáp về Nâng cao chất lượng phát triển kinh tế Việt Nam
Nâng cao chất lượng phát triển kinh tế có nghĩa là giảm tốc độ tăng trưởng không?
Không. Mục tiêu là duy trì tăng trưởng nhưng dựa nhiều hơn vào năng suất, đổi mới công nghệ và sử dụng nguồn lực hiệu quả. Tăng trưởng có chất lượng thường ổn định và bền vững hơn tăng trưởng dựa chủ yếu vào mở rộng vốn, tín dụng hoặc khai thác tài nguyên.
Vì sao năng suất lao động Việt Nam vẫn thấp dù tăng khá nhanh?
Tốc độ tăng năng suất của Việt Nam được hỗ trợ bởi đầu tư và chuyển dịch lao động sang ngành có năng suất cao hơn. Tuy nhiên, năng lực quản trị, công nghệ, kỹ năng lao động và quy mô của nhiều doanh nghiệp trong nước còn hạn chế, khiến mức năng suất tuyệt đối vẫn thấp so với các nền kinh tế phát triển.
Cải cách thể chế tác động đến năng suất bằng cách nào?
Thể chế tốt làm giảm thời gian và chi phí giao dịch, bảo vệ quyền tài sản, bảo đảm cạnh tranh và giúp vốn, đất đai, lao động được phân bổ vào hoạt động có hiệu quả cao. Ngược lại, quy định thiếu rõ ràng và thực thi không nhất quán làm doanh nghiệp giảm đầu tư dài hạn.
Việt Nam nên ưu tiên doanh nghiệp trong nước hay doanh nghiệp FDI?
Hai khu vực không nên được xem là những lựa chọn loại trừ nhau. Việt Nam cần tiếp tục thu hút FDI có chất lượng, đồng thời nâng năng lực doanh nghiệp trong nước để hình thành liên kết cung ứng, tiếp nhận công nghệ và giữ lại nhiều giá trị gia tăng hơn.
Chỉ số nào phản ánh chất lượng phát triển tốt hơn GDP?
Không có một chỉ số đơn lẻ thay thế hoàn toàn GDP. Cần kết hợp GDP với năng suất lao động, năng suất nhân tố tổng hợp, hiệu quả sử dụng vốn, chất lượng việc làm, năng lực đổi mới, giá trị gia tăng trong nước, mức phát thải và chất lượng thể chế.
